Cập nhật về workshop "viết và công bố khoa học" (11/2016)

Xin hân hạnh cập nhật về workshop về viết và công bố khoa học ở ĐH Phạm Ngọc Thạch. Hôm nay thì số học viên đăng kí đang tăng nhanh chóng và vượt ngưỡng kì vọng. Khổ nỗi là nhiều người chờ đến cận ngày mới chịu đăng kí nên làm cho ban tổ chức đau đầu.



Xin nhắc lại workshop sẽ diễn ra từ 14/11 đến 17/11. Sẽ có 12 bài giảng từ cách đặt tựa đề bài báo, cách viết theo mô thức IMRaD (Introduction - Methods - Results - Discussion), cách soạn cover letter, văn phong tiếng Anh, và lí do tại sao bài báo bị từ chối. Ngoài ra, thêm 2 bài về cách viết đề cương nghiên cứu và luận án theo kiểu Việt Nam hiện nay và đối chiếu với cách viết chuẩn của giới khoa học quốc tế.  

Ngày 18/11, chúng ta sẽ có một workshop về ứng dụng di truyền học trong nghiên cứu y học và lâm sàng. Chúng tôi đã có gần 10 đồng nghiệp nhận lời đến chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức. Các đồng nghiệp ấy sẽ nói về ứng dụng di truyền trong hỗ trợ sinh sản, tiểu đường, ung thư, loãng xương, v.v. Đáng lí ra còn mời nhiều đồng nghiệp khác nữa, nhưng vì không có tài trợ, cũng chẳng thì giờ, và mục tiêu workshop rất khiêm tốn và rất cụ thể, nên chỉ có một số bạn trực tiếp làm về di truyền đến chia sẻ kinh nghiệm.

Một chuyên gia của hãng Illumina sẽ nói về những công nghệ hiện đại cho phân tích di truyền phục vụ cho nghiên cứu và xét nghiệm lâm sàng. Illumina là một trong những công ti hàng đầu trên thế giới về di truyền học. Còn tôi thì sẽ nói cách làm thế nào để nâng cao phẩm chất khoa học của nghiên cứu qua di truyền, cách thiết kế nghiên cứu để đánh giá mức độ ảnh hưởng của gen, và làm sao thiết kế nghiên cứu để khám phá gen.

Hiện nay, đa số nghiên cứu y học ở VN thường dừng lại ở dạng y tế công cộng và kiểm kê lâm sàng, rất ít những nghiên cứu chuyên sâu. Tôi hi vọng rằng qua workshop 1 ngày này chúng ta sẽ có dịp làm quen, và góp phần tạo một trào lưu mới về nghiên cứu di truyền học ở VN.

Nếu các bạn muốn ghi danh, thì phải làm nhanh trong ngày thứ Hai tuần tới (7/11). Sau ngày thứ Hai trường sẽ không nhận thêm học viên.  


Ản lẩu ngon ở Hà Nội với nhiều gợi ý thú vị về các địa điểm hấp dẫn

Lẩu từ lâu đã trở thành một nét văn hoá ẩm thực quen thuộc của người Việt. Ban đầu, chỉ đơn giản là nồi nước dùng được nhúng các loại rau và thịt, không có một hương vị hay một cái tên cụ thể nào. Nhưng dần dần, khi nền ẩm thực phát triển, món lẩu đã được chú trọng hơn trong cách chế biến nhằm tạo nên những khác biệt trong hương vị như Lẩu riêu cua, Lẩu ba ba chuối đậu, Lẩu gà măng chua,…
Vào những buổi gặp gỡ đông người hay ăn uống cùng bạn bè, lẩu sẽ là sự lựa chọn của nhiều người vì đây là một món ăn quen thuộc. Ngoài ra, cùng nhau quây quần bên nồi lẩu thơm ngon và trò chuyện thật vui vẻ thì còn gì bằng, các bạn nhỉ? Trong bài viết này, Eatout sẽ giới thiệu 5 địa điểm ăn lẩu ngon ở Hà Nội cực kỳ độc đáo và thơm ngon dành cho mùa đông này nhé!

1. Nhà hàng 1946

* Không gian và món ăn

1946 vừa quen, vừa lạ với mọi người. Quen vì bạn sẽ tìm thấy đâu đó trong không gian giản dị và ấm cúng này là những hương vị gần gũi mà bà và mẹ vẫn thường nấu cho cả nhà mỗi khi đoàn tụ. Lạ vì mỗi món ăn dù tên gọi có giống nhưng hương mà 1946 đem tới lại mộc mạc, độc đáo, khiến bạn nếu đã thử một lần, sẽ còn nhớ mãi. Từ món ăn, nội thất đến cách ăn mạc của các nhân viên phục vụ nơi đây đều cầu kỳ và chú tâm khắc hoạ rõ đặc trưng văn hoá Hà Nội của thời kỳ Đông Dương mà có lẽ, chẳng cần hoa lệ, nhà hàng vẫn nhẹ nhàng nổi bật theo phong cách riêng của mình.


Những món ăn có từ bao đời nay, dưới lăng kinh ẩm thực độc đoá của bàn tay đầu bếp, nhà hàng 1946 bỗng trở nên đầy mới mẻ, từ con cá, quả cà đậm chất chất đồng quê đến đặc sản núi rừng, coa lương mỹ vị. Những nồi lẩu ở đây được trình bày khá lạ mắt. Nước lẩu đựng trong chiếc nồi nhôm xưa cũ, giữ nóng bằng bếp cồn. Đồ ăn kèm bày trong các mẹt nhỏ. Mọi thứ cứ thanh đạm và nhẹ nhàng như đang sống lại những năm 40 vậy. Ở đây phục vụ rất nhiều loại lẩu khác nhau, từ lẩu riêu cua bỗng riệu thơm nồng đến Lẩu gà măng chua thanh nhẹ, hay các loại lẩu cháo nóng ấm. Gắp một miếng, nhấp chén rượu quê cay cay the the, cuộc nhậu vui của những người bạn lại có thêm vài phần ý vị.

* Giá cả và chất lượng
Mức giá tại 1946 cũng khá nhẹ nhàng, chỉ dao động từ 150.000đ tới 200.000đ cho một người. Nếu có dịp cần gây ấn tượng với ai đó về văn hoá và con người Việt Nam, hay chỉ đơn giản là muốn cùng với bạn bè thưởng thức những món ăn ngon trong không gian Hà Nội xưa cũ thì bạn hãy tới 1946 để trải nghiệm nhé!
Địa chỉ: Số 3 ngõ Yên Thành, 61 Cửa Bắc, Ba Đình, Hà Nội
Giờ mở cửa: 08:45 - 22:00

2. Quán Highway 4

* Không gian và món ăn

Bước vào toà nhà 3 tầng được xây từ thời Pháp thuộc ở số 5 Hàng Tre, thực khách sẽ thấy ngay quầy rượu lớn tại tầng 1, trưng bày theo phong cách rất riêng của một quán bar sang trọng Những chiếc bàn sơn mài tạo cảm giác thoải mái bởi lối bài trí quanh bộ ghế dựa phủ đệm hoa văn thổ cẩm, thời trang ưa thích của những cô gái Hmong Bắc Hà. Kiến trúc không gian tầng 2 mang phong cách truyền thống hơn, với những tấm đệm cỏ thêu tay xếp ngay ngắn bên chiếc bàn tre nhỏ. Xung quanh bức tường cổ kính là những tác phẩm tranh nghệ thuật trên giấy dó, tranh sơn mài tạo một không gian ấm áp trong ánh sáng lung linh của các ngọn đèn nan tre.



Highway 4 là một nhà hàng khá quen thuộc với người Hà Nội bởi món rượu Sơn Tinh rất ngon và đặc sắc. Việc thưởng thức các món ăn mang hương vị dân tọc, nhâm nhi cùng với những chén rượu Sơn Tinh hẳn sẽ là những giây phút thoải mái sau giờ làm việc căng thẳng. Tại Highway 4, có hơn 10 loại lẩu để bạn lựa chọn, từ những món truyền thống như Lẩu bắp bò, Lẩu riêu cua, Lẩu vịt măng chua tới các loại nấu với rượu như lẩu gà ta rượu nếp. Thịt gà chín mềm, thấm đẫm vị lẩu đậm đà, thoảng chút cay nồng của rượu nếp, chắc hẳn sẽ là một trải nghiệm thú vị dành cho các thực khách khi đến với nơi đây.

* Giá cả và chất lượng
Mức giá dành cho một người tại nhà hàng Highway 4 dao động từ 100.000đ tới 200.000đ. Rất thích hợp để bạn có cơ hội trải nghiệm không gian nhà hàng rộng rãi bên những chén rượu cay nồng cùng bạn bè.
Địa chỉ: 5 Hàng Tre, Hoàn Kiếm, Hà Nội | 25 Bát Sứ, Hoàn Kiếm, Hà Nội | 101 Trần Thái Tông, Cầu Giấy, Hà Nội | 575 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội
Giờ mở cửa: 10:00 - 23:00

3. Nhà hàng HOME

* Không gian và món ăn

Tọa lạc tại số 34 phố Châu Long, gần hồ Trúc Bạch và gần khu phố cổ, HOME là một Villa với kiến trúc Pháp thuộc địa được xây dựng trên nền diện tích 320m2. Diện tích xây dựng chỉ bằng 1/3 diện tích đất, HOME có khoảng sân rộng rãi dưới mái che và tán cây xanh mát. Chủ nhân của HOME đã dày công sưu tập bàn ghế và nhiều vận dụng từ thời trước giải phóng, những thiết kế Tây phương nhưng phảng phất nét Á đông đặc trưng của Hà Nội những năm 1910 – 1930. Phong cách hoài cổ tạo cảm giác thư thái đặc biệt giữa sự náo nhiệt và chuyển động của một thủ đô.


Các món ăn đặc trưng của Hà Nội là phong cách ẩm thực chủ đạo nơi đây. Menu thiết kế như một tờ báo và được thay đổi thường xuyên để đảm bảo các món ăn tốt nhất theo mùa. Bên cạnh các món cổ truyền như Vịt xào lá mắc mật, Cá quả một nắng,... thì nhà hàng còn phục vụ các loại lẩu truyền thống, đặc biệt là lẩu 6 tầng với mỗi tầng một loại hải sản khác nhau như cá hồng, cua bể, ốc hương,...Chắc chắn sẽ đưa tới thực khách những trải nghiệm đặc biệt và khó quên.


* Giá cả và chất lượng
Với một không gian sang trọng cùng những món ăn chất lượng, mức giá từ 250.000đ tới 300.000đ cho một người không phải là quá đắt. Hãy tới HOME để cảm nhận ẩm thực theo một cách hoài cổ và yên tĩnh nhé!
Địa chỉ: Số 34 Châu Long, Ba Đình, Hà Nội
Giờ mở cửa: 10:00 - 14:00 | 17:30 - 22:00

4. Nhà hàng du thuyền Potomac

* Không gian và món ăn

Nhà hàng du thuyền Potomac là một trong những nhà hàng sang trọng, độc đáo với mô hình mới lạ bậc nhất Hà Nội. Cùng với lối kiến trúc đậm chất phương Tây, nhà hàng luôn tạo ra sự trang trọng với lối đi lên đầy hoa và cây xanh. Không gian 3 tầng với nội thất hiện đại được ốp gỗ tự nhiên, tạo gam màu vàng ấm cúng. Diện tích rộng, phù hợp với các mục đích như tổ chức sự kiện, tiệc lớn, hay chỉ đơn giản là cùng bạn bè ngồi thưởng thức những món ăn ngon giữa hồ Tây thoáng đãng.


Thực đơn ở Potomac khá đa dạng và phong phú. Từ những món ăn phương Tây cao cấp như Bào ngư sốt dầu hào hay hay Bào ngư xào nấm, tới những món ăn Việt Nam, dân dã như Nộm sứa cay thanh mát hay Cá chép Hồ Tây. Nhưng nổi bật nhất của quán chắc chắn là những nồi lẩu nghi ngút khói. Nếu bạn thích ăn hải sản thì Lẩu hải sản chua cay hay Lẩu ba ba rượu vang sẽ rất thích hợp. Thịt ba ba thơm mềm, dùng kèm với rau và nước lẩu đậm đà, thoảng vị rượu, rất phù hợp với một buổi tối se lạnh bên làn nước hồ Tây. Ngoài ra, bạn có thể thưởng thức Lẩu gà đặc biệt. Thịt gà được chế biến khéo léo để không bị khô mà vẫn giữ được độ ẩm, nước lẩu thanh dịu, ăn ngon nhưng không bị đầy.

* Giá cả và chất lượng
Với một không gian sang trọng và độc đáo, cùng đội ngũ nhân viên nhiệt tình, chu đáo thì mức giá 150.000đ tới 200.000đ cho một người không phải là quá đắt. Sao bạn không cùng bạn bè tới thưởng thức những món ăn cực kỳ hấp dẫn tại nơi đây nhỉ!
Địa chỉ: Số 6 đường Nguyễn Đình Thi, Tây Hồ, Hà Nội
Giờ mở cửa: 08:00 - 23:00

5. Nhà hàng Phương Nam

* Không gian và món ăn

Nằm tại số 155 Bùi Thị Xuân nhộn nhịp, nhà hàng Phương Nam lưu lại ấn tượng sâu đậm trong lòng thực khác bằng sự sang trọng, tinh tế, kết hợp hài hoà giữa hai tông màu nâu, trắng cùng với nét ẩm thực Nam Bộ đặc sắc. Từ bộ bàn ghế, sàn gỗ cho đến khung đèn, dàn tranh treo trên tường nơi đây…tất cả đều toát lên một vẻ “Nam Bộ”. Thực khách vừa được thưởng thức những món ăn đậm chất miền Nam, lại vừa ngay ngất trong thứ không gian đặc trưng của người dân nơi đó.


Đề cao chất hồn Nam Bộ ngay từ trong tên gọi, các loại rau sống ăn kèm tại nhà hàng phương Nam đều là những món rau quen thuộc của người Nam Bộ như rau đắng, săng dẻ, kim trâm, kèo nèo,… độ tươi ngon khó nơi nào sánh bằng. Và nói đến đặc sản của người miền Tây Nam Bộ thì không thể không nhắc đến món lẩu cá kèo lá giang - một món ăn vô cùng giản dị và dân dã, nhưng lại có sức hút đến lạ kỳ. Cái hương vị chua chua, dìu dịu của nước dùng, kết hợp với thịt cá thơm ngon, giữ nguyên hương vị chuẩn của vùng sông nước Cửu Long khiến thực khách nhớ mãi.

* Giá cả và chất lượng
Giá trung bình cho một người khi tới ăn ở nhà hàng Phương Nam là từ 150.000đ tới 180.000đ, khá phù hợp nếu bạn muốn thử trải nghiệm ẩm thực Nam Bộ một lần.
Địa chỉ 155 Bùi Thị Xuân, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Giờ mở cửa: 10:30 - 14:00 | 17:30 - 22:00
Hà Nội dịp này đang chuyển lạnh rồi, chắc hản các bạn sẽ thích mê cái cảm giác se se lạnh của thời tiết và sự ấm áp của những nồi lẩu ngon bên cạnh bạn bè, gia đình và đồng nghiệp rồi phải không? Vậy còn chần chừ gì nữa mà không lưu ngay những địa điểm trên đây để thưởng thức nhỉ?

Bảy trụ cột thông thái của thống kê học

Một trong những cuốn sách khoa học mà tôi rất thích trong vài tháng gần đây là cuốn "The Seven Pillars of Statistical Wisdom" của tác giả Stephen M. Stigler (1). Đây là một cuốn sách nhỏ (200 trang) cung cấp cho chúng ta những lí giải cực kì lí thú về khoa học thống kê và lịch sử đằng sau những phương pháp mà chúng ta sử dụng trong suy luận khoa học. Như tựa đề cuốn sách, tác giả Stigler tập trung vào giải thích 7 trụ cột thông thái của thống kê học, và tôi thử tóm lược theo cách hiểu của tôi dưới đây.


 

Nhưng trước khi giải thích, tôi thấy cần phải dành vài chữ giải thích ý nghĩa chữ wisdom, mà tôi thấy hơi khó dịch sang tiếng Việt mình. Ở mức độc đơn giản nhất, wisdom là thông thái, khôn ngoan. Nhưng nếu có kinh nghiệm cọ sát với xã hội nói tiếng Anh thì hình như chữ "thông thái" và "khôn ngoan" có vẻ không tương đương với wisdom. Trong ngữ cảnh của tựa đề cuốn sách này, tôi hiểu wisdomnhư là những tri thức và trải nghiệm được đúc kết qua những trải nghiệm thực tế, cũng giống như những câu ca dao là những tinh tuý về ứng xử ở đời mà cha ông chúng ta đã đúc kết và truyền lại.

Để hiểu các khái niệm trong sách, cần phải phân biệt dữ liệu (data) và thông tin (information). Dữ liệu là những gì chúng ta thu thập từ nghiên cứu. Để chuyển hoá dữ liệu thành thông tin, chúng ta phải áp dụng phương pháp phân tích thống kê. Nói cách khác, thống kê học là công cụ để chúng ta thu nạp thông tin từ dữ liệu. Dĩ nhiên, từ thông tin, chúng ta có thể biến thành kiến thức (knowledge) qua dùng phương pháp qui nạp khoa học.

Sau khi phân biệt được sự khác biệt giữa dữ liệu, thông tin, và kiến thức, chúng ta thử điểm qua 7 trụ cột mà tác giả Stigler đề cập trong cuốn sách. Bảy trụ cột này cũng có thể xem là 7 nghịch lí, và tôi sẽ giải thích thêm dưới đây:

Trụ cột 1 - aggregation: Qui luật loại bỏ dữ liệu để thu nạp thông tin

Trong phần này, Stigler lí giải và đưa ra một nhận xét làm chúng ta ngạc nhiên: đó là chúng ta thu nạp kiến thức bằng cách loại bỏ thông tin! Chẳng hạn như đối phó với một dãy số liệu về chiều cao, chúng ta chỉ cần tính một số trung bình, và dùng nó như là một thông tin để kiến tạo tri thức. Còn tất cả những con số để tạo nên số trung bình thì bị loại bỏ, không được đề cập đến. Mỗi ngày, chúng ta đọc và nghe biết bao số trung bình, từ thị trường chứng khoán, chính sách kinh tế, đến nghiên cứu y khoa, tất cả đều dùng số trung bình để đi đến những quyết định phức tạp.

Lịch sử và sự ra đời của con số trung bình cũng được tác giả diễn giải rất tường tận. Thống kê học, hay ít ra là các khái niệm thống kê học, đã được sử dụng trong thiên văn học từ thế kỉ 18, phải đợi đến giữa thế kỉ 19 thì mới thịnh hành. Lí do là vấn đề đo lường và liên quan đến giá trị trung bình. Tác giả Stigler chỉ ra rằng nếu chúng ta đo lường [chẳng hạn như] Sao Mộc, thì chúng ta biết rõ đó là một thực thể, nó ở một vị trí và chúng ta có thể ước tính sai số. Nhưng nếu chúng ta đo lường tuổi thọ hay mức độ lạm phát kinh tế, thì chúng ta không có được cái "xa xỉ" như đo lường Sao Mộc, bởi vì những biến số như tuổi thọ nó xuất phát từ mẫu mà chúng ta có được và chúng ta không biết được giá trị thật của quần thể. Người có công đầu trong việc phát kiến trị số trung bình là Nhà khoa học người Bỉ Adolphe Quetelet (người sáng tạo ra chỉ số body mass index). Vào năm 1831, Quetelet "sáng chế" ra cái mà ông gọi là "L'homme Moyen" (người trung bình). Người trung bình là một cá nhân hư cấu, với giá trị trung bình mà chúng ta có thể sử dụng để đại diện một nhóm người. Do đó, Quetelet tính chiều cao và trọng lượng trung bình của một nhóm lính Pháp, rồi xem đó là một người lính tiêu biểu. Nhưng Quetelet hiểu được rằng trị số trung bình sẽ dao động giữa các nhóm lính, và ông bàn về độ chính xác cũng như cách tính. Từ đó, khoa học thống kê có một giá trị mà sau này trở thành phổ biến nhất và được áp dụng trong hầu như bất cứ lĩnh vực xã hội nào. Cái bất ngờ mà tác giả Stigler chỉ ra rằng chúng ta có cái giá trị tiêu biểu bằng cách loại bỏ dữ liệu!

Trụ cột 2 - information: Qui luật giảm lượng thông tin

Giả dụ như nếu chúng ta ước tính số trung bình quần thể dựa trên 100 đối tượng (và gọi là x1), và số trung bình dựa trên 200 đối tượng (x2), câu hỏi đặt ra là giá trị của thông tin trong x2 cao gấp 2 lần so với giá trị thông tin trong x1? Câu trả lời là không. Trong thực tế, nếu chúng ta tăng lượng dữ liệu gấp 2 lần thì giá trị thông tin chỉ tăng khoảng 1.4 lần.  Nếu chúng ta tăng lượng dữ liệu gấp 3 lần thì lượng thông tin chỉ tăng 1.7 lần.

Từ đâu mà có các con số đó? Tác giả chỉ ra một sự thật hiển nhiên từ công thức tính sai số chuẩn (standard error). Sai số chuẩn bằng độ lệch chuẩn chia cho căn số bậc 2 của số cỡ mẫu; hay nói cách khác, độ lệch chuẩn bằng sai số chuẩn nhân cho căn số bậc 2 của lượng dữ liệu. Chẳng có gì mới ở đây, vì De Moivre đã chỉ ra từ 1738, và đó cũng chính là lí thuyết đằng sau Định lí giới hạn trung tâm (Central Limit Theorem).

Nhưng cái hay ở đây là tác giả Stigler đã đưa ra một cách diễn giải rất có ý nghĩa trong bối cảnh Dữ liệu Lớn (Big Data) đang rất thịnh hành như là một xu hướng thống kê "thời thượng". Những người tin vào Dữ liệu Lớn nghĩ rằng bằng cách tăng lượng dữ liệu thì chúng ta sẽ có thông tin chính xác hơn, đáng tin cậy hơn. Đúng nhưng chưa đủ, bởi vì lượng thông tin không phải là hàm số tuyến tính của lượng dữ liệu.

Trụ cột 3 - likelihood: Thu nạp thông tin từ tình trạng bất định

Trong chương này, tác giả Stigler bàn về lí thuyết khả dĩ (Likelihood). Trong phần này, tác giả Stigler lí giải rằng chúng ta thu nạp thông tin từ dữ liệu qua các phương pháp như kiểm định thống kê (test of significance) và trị số P mà Ronald Fisher đề xướng từ năm 1925, cùng với những phương pháp sau này như khoảng tin cậy 95%. Các phương pháp này cũng đã giúp chúng ta giảm sự bất định trong cuộc sống. Kiểm định thống kê mà Ronald Fisher đề xướng không phải là ý tưởng mới, bởi vì phương cách này đã được John Arbuthnot áp dụng trước đó để tính toán xem hiện tượng sinh con trai nhiều hơn con gái là do ý của Thượng đế hay ngẫu nhiên!

Trụ cột 4 - intercomparison: So sánh. Bất cứ ai làm nghiên cứu khoa học cũng cần so sánh. Thường là so sánh hai nhóm xem có khác nhau một cách có hệ thống hay khác biệt chỉ là do yếu tố ngẫu nhiên. Phương pháp kiểm định t (do William Gosset đề xướng) là một phương pháp quen thuộc. Một phương pháp so sánh khác cũng hay được áp dụng là phân tích phương sai (ANOVA hay analysis of variance) do Ronald Fisher phát kiến. Trong khi các ngành khác, người ta so sánh với một chuẩn vàng (gold standard), thì khoa học thống kê so sánh thông tin trong cùng một dữ liệu, một nghiên cứu.

Những ai đọc sách sử thống kê học đều biết rằng William Gosset từng làm việc cho hãng bia Guiness, và công việc của ông lúc đó là kiểm nghiệm chất lượng bia. Trong nhiệm vụ đó, ông phải làm nghiên cứu nhưng thường dựa trên số mẫu nhỏ, và "cái khó ló cái khôn", ông đã sáng chế ra phương pháp so sánh khác biệt dựa vào cỡ mẫu nhỏ. Trong một dịp nghỉ hè (sabbatical) ông thăm labo của Karl Pearson tại University College London, và viết bài báo nổi tiếng. Khi bài báo được gửi cho tập san thống kê học, ông không được kí tên thật (vì là nhân viên của Guiness), nên phải kí dưới bút danh là "Student". Từ đó, khoa học có phương pháp kiểm định gọi là "Student's test".

Trụ cột 5 - regression: Thu nạp thông tin từ qui luật hồi qui về số trung bình

Một trong những phương pháp để chúng ta thu nạp thông tin rất hữu hiệu là mô hình hồi qui tuyến tính (linear regression model). Mô hình này là một triển khai từ phương pháp phân tích tương quan (correlation analysis). Phân tích tương quan là phương pháp do Nhà nhân chủng học trứ danh Francis Galton đề xướng từ cuối thế kỉ 19. Lúc đó, Galton đang nghiên cứu về ảnh hưởng của di truyền đến trí thông minh, và ông dùng chiều cao là một marker. Ông quan sát rằng những cặp cha mẹ có chiều cao thấp hơn trung bình thường sinh con có chiều cao cao hơn cha mẹ; ngược lại, những cặp vợ chồng có chiều cao cao thường sinh con có chiều cao thấp hơn họ. Đây là hiện tượng hồi qui về số trung bình, hay thuật ngữ tiếng Anh là "regression to the mean".

Đây là một trong những chương hay nhất của cuốn sách. Tác giả bắt đầu với câu chuyện về Charles Darwin, một người em họ của Francis Galton. Darwin là người không thích toán, không phải ông kém khả năng về toán, mà ông cho rằng toán không giúp gì cho khoa học! Darwin đề ra ý tưởng gọi là "The Rule of Three" hay "Qui luật tam suất". Ông nói nếu chúng ta biết rằng a/b = c/d và nếu chúng ta biết 3 số, thì chúng ta có thể xác định được số thứ 4. Nhưng trong thực tế, chúng ta cần nhiều tập hợp 4 giá trị để ước tính tham số của mô hình hồi qui tuyến tính. Nhưng ý tưởng về phân loại chủng vật của Darwin sau này lại nhờ các phương pháp phân tích đa biến giúp đỡ rất nhiều. Tất cả các phương pháp phân tích đa biến đều xuất phát từ mô hình hồi qui tuyến tính.

Trụ cột 6 - design: Thu nạp thông tin từ số ngẫu nhiên

Ngạc nhiên thay, chúng ta thu nạp thông tin cơ chế ... ngẫu nhiên hoá. Ý nghĩa của trụ cột này cần một vài lời giải thích. Thiết kế là một phương pháp thu nạp thông tin có hệ thống. Nhưng thiết kế là phải dùng đến cơ chế ngẫu nhiên hoá (randomization). Chẳng hạn nếu chúng ta muốn đánh giá hiệu quả của một thuốc điều trị bệnh, chúng ta phải chia nhóm bệnh nhân một cách ngẫu nhiên để đảm bảo các nhóm đều có những yếu tố nhiễu giống nhau.

Thật ra, có thể xem thiết kế nghiên cứu là một cách tối ưu hoá. Trong chương này, tác giả Stigler dìu dắt chúng ta qua lịch sử của thiết kế nghiên cứu hết sức thú vị. Ý tưởng thiết kế nghiên cứu để thu nạp thông tin xuất phát từ sổ số bên Pháp vào năm 1757. Sổ số lúc đó đóng góp 4% cho ngân sách của Pháp (có lẽ giống như sổ số tràn lan hiện nay ở Việt Nam). Sau đó khi Ronald Fisher làm việc cho Trạm thí nghiệm Rothamsted, ông mới nghĩ ra phương pháp chia nhóm ngẫu nhiên (randomization). Trong một bài diễn thuyết trong Hội nghị Thống kê học Ấn Độ năm 1938, Fisher tuyên bố rằng "To consult the statistician after an experiment is finished is often merely to ask him to conduct a post mortem examination. He can perhaps say what the experiment died of" (Tư vấn nhà thống kê học sau khi thí nghiệm đã làm xong có thể ví von như là hỏi nhà thống kê học làm một cuộc giảo nghiệm tử thi. Nhà thống kê học có thể nói cái thí nghiệm chết vì lí do gì.) Ý của Fisher là muốn thí nghiệm có kết quả tốt và muốn thu nạp thông tin đáng tin cậy thì phải tư vấn nhà thống kê học trước khi làm thí nghiệm -- một lời khuyên vẫn còn ý nghĩa thời sự ngày hôm nay. Nhưng việc này đòi hỏi nhà thống kê phải hiểu vấn đề khoa học và hiểu qui trình suy luận khoa học.

Trụ cột 7 - residual: Thu nạp thông tin từ ... sai số

Khi nói "sai số" ở đây, tôi muốn nói đến dao động dư, tức "residuals" hay "error terms" trong mô hình hồi qui tuyến tính. Trong khoa học, thỉnh thoảng chúng ta phát hiện những cái bình thường từ những dữ liệu bất bình thường. Cái bất bình thường ở đây chính là residuals, là sai số từ mô hình. Chẳng hạn như để phát hiện những gen có liên quan đến bệnh lí, chúng ta sẽ mô hình phân bố của gen dựa vào một qui luật sinh học, và các dữ liệu nằm ngoài hay lệch so với giá trị kì vọng chính là những gen đáng quan tâm. Như vậy, chúng ta phát hiện cái cơ chế sinh học từ những dữ liệu và thông tin bất thường.

Điều này có ý nghĩa rất quan trọng cho nhà thống kê học. Đối với những nhà thống kê học được huấn luyện trong các đại học mà không có tương tác với khoa học, phân tích dao động dư là để kiểm định tính hợp lí của mô hình của họ. Nhưng đối với khoa học, điều đó chẳng quan trọng; điều quan trọng là những dữ liệu mà mô hình không giải thích được.

Cuốn sách được viết với văn phong khoa học nhưng vẫn hấp dẫn với người ngoài khoa học. Nhưng thỉnh thoảng, tác giả có vẻ giả định người đọc phải hiểu một số khái niệm thống kê học. Chẳng hạn như người đọc phải "động não" để hiểu L(Θ)=L(Θ)|Χ and Cov(L,W)=E{Cov(L,W|S)}+Cov(E{L|S}, E{W|S})! Nhưng may mắn thay, nhưng công thức loại này chỉ xuất một vài lần trong sách, và người đọc không cần hiểu chúng mà vẫn nắm được ý nghĩa đằng sau các mô hình thống kê.

Tóm lại, cuốn sách "The Seven Pillars of Statistical Wisdom" là một tác phẩm rất hay và đáng đọc. Tác phẩm này hay là vì tác giả đã đem đến cho chúng ta những cái nhìn rất tươi, với những lí giải rất mới về những phương pháp thống kê cổ điển. Chỉ trong 200 trang sách mà tác giả đã lược qua những điểm chính (7 điểm) trong suốt chiều dài lịch sử của chuyên ngành khoa học thống kê. Cuốn sách còn giúp cho chúng ta, những người làm nghiên cứu thực nghiệm, hiểu sâu hơn về các phương pháp thống kê, và qua đó giúp chúng ta suy nghĩ một cách thống kê, chứ không phải suy nghĩ như là một công cụ. Xin nhấn mạnh: tôi xem thống kê học là một cách suy nghĩ. Thay vì tập trung vào những chi tiết tính toán, chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa đằng sau của các phương pháp và mô hình thống kê. Nếu bạn là nhà thống kê học, nhà khoa học thực nghiệm, cuốn sách "The Seven Pillars of Statistical Wisdom" phải có trong tủ sách của các bạn.

===
(1) Stephen M. Stigler là giáo sư xuất sắc chuyên ngành sử thống kê thuộc Đại học Chicago. Ông tốt nghiệp tiến sĩ thống kê học từ Đại học California, Berkeley, nhưng sau đó ông chuyển về Đại học Wisconsin, Madison, và năm 1979 thì chuyển sang Đại học Chicago cho đến nay. Ông công bố nhiều công trình nghiên cứu về sử thống kê rất có giá trị. Những công trình này được đúc kết thành cuốn sách "The History of Statistics" (1986) và "Statistics on the Table" (1999). Ngoài vai trò là sử gia của khoa học thống kê, ông còn biên tập phần lí thuyết cho tập san Journal of the American Statistical Association (1979-1982). Với những thành tích đó, Stigler là người có thẩm quyền để viết về những ý nghĩa đằng sau 7 wisdom thống kê mà tôi đang giới thiệu đến các bạn.

Xếp hạng đại học thế giới 2016/2017

Các nhóm xếp hạng đại học lần lượt trình làng các bảng xếp hạng đại học niên học 2016/2017 (1). Cũng như những lần gần đây, mỗi danh sách đều gây ra vài ngạc nhiên, và lần này tôi thấy ngạc nhiên cho Nhật. Ở Á châu, xu hướng là các đại học "trẻ" đang lên, và các đại học "già" đang đi xuống hay mất vị trí dẫn đầu.


Danh sách 10 đại học hàng đầu thế giới vẫn là những đại học của Mĩ và Anh:
1. MIT
2. Stanford
3. Harvard 
4. Cambridge 
5. Caltech
6. Oxford
7. UCL 
8. ETH Zurich
9. Imperial College London 
10. Chicago


Kế đến là Princeton, Yale, Cornell, Johns Hopkins, Columbia, ĐHQG Úc (hạng 22). Các đại học của Á châu nằm trong danh sách top 20 bao gồm NUS (Đại học Quốc gia Singapore) và Viện công nghệ Nanyang. Riêng Úc có 6 đại học xếp hạng cao như:
• ĐH Quốc gia Úc (hạng 22)
• ĐH Melbourne (hạng 42)
• ĐH Sydney (46)
• ĐH New South Wales (49)
• ĐH Queensland (51) 
• ĐH Monash (65)

ĐH Công nghệ Sydney (UTS) đứng hạng 193, cũng may mắn được nằm trong "Top 200". Ở hạng này, UTS chỉ nằm trong nhóm các đại học "làng nhàng" như Bern (Thuỵ Sĩ), Illinois, Sussex, Cape Town, Stockholm, Calgary, Vrije Amsterdam.

Ở Á châu, NUS vẫn đứng đầu bảng. Kế đến là Đại học Hồng Kông, Viện công nghệ Nanyang, ĐH Khoa học và Công nghệ Hồng Kông (HKUST), ĐH Thanh Hoa, Viện KAIST, ĐH Thành Đô Hồng Kông (CUHK), ĐH Bắc Kinh, và ĐH Quốc gia Hán Thành (SNU). Điều có lẽ gây ngạc nhiên là trong số 10 đại học hàng đầu của Á châu, không có các đại học lừng danh của Nhật!

Các đại học Á châu khác cũng có thứ hạng trong bảng là Chulalongkorn (45), Mahidol (hạng 61), ĐH Nam Dương (67), ĐH Phi Luật Tân (70). Riêng VN thì có ĐHQG Hà Nội đứng hạng 139 và ĐHQG HCM (147). Vài con số để so sánh:

ĐHQG Hà Nội:
• 2426 giảng viên; 95 là quốc tế; 
• 1224 giảng viên với bằng tiến sĩ; 
• Số sinh viên: 34257; số sinh viên quốc tế 255.

ĐHQG HCM:
• 2184 giảng viên
• Số sinh viên: 46882 
• Số sinh viên quốc tế 179

Nói chung, các đại học hàng đầu thế giới thì không có gì thay đổi đáng kể. Nói theo cách nói bình dân là "ra vào cũng thằng cha khi nãy", tức là vẫn các đại học hạng "elite" của Mĩ và Anh đứng đầu. Nếu mở rộng top 50 thì có 5 đại học Úc trong danh sách.

Bảng xếp hạng cũng cho thấy một xu hướng chung là các đại học Á châu đang -- nói theo tiếng Anh là -- rất dynamic. Đáng phục là Singapore, một quốc đảo chỉ có 5 (?) triệu dân, mà có đến 2 đại học hàng đầu thế giới và hàng đầu cả Á châu. Kết quả xếp hạng còn cho thấy trong khi các đại học Nhật có vẻ như đang chựng lại, thì đại học trẻ hơn ở một số nước đang vươn lên nhanh như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, và đặc biệt là Tàu. Nói gì thì nói, sự năng động và phát triển của các đại học Tàu là đáng nể. Riêng Việt Nam chúng ta tuy ở bên cạnh Tàu, nhưng hình như vẫn  chưa học được cái hay của họ, và có lẽ chính vì thế mà giáo dục đại học Việt Nam có vẻ "lạc nhịp" so với thế giới và ngay cả so với các nước trong vùng.

===

Xin nhắc lại tiêu chuẩn để xếp hạng đại học của QS là:
• Bình duyệt của các giáo sư trên thế giới (qua survey): trọng số 40%; 
• Tỉ số giảng viên trên sinh viên: 20%;
• Số trích dẫn tính trên mỗi giảng viên: 20%;
• Danh tiếng trong doanh nghiệp: 10%.

Dịch vụ SEO